Phương pháp bào chế Thuốc mỡ Emulgel Natri Diclofenac

0
1214
Voltaren có cấu trúc Emulgel
Voltaren có cấu trúc Emulgel

Trên thị trường ngày càng có rất nhiều loại thuốc với tác dụng dược lý để điều trị bệnh khác nhau. Một trong những nhóm thuốc được dùng phổ biến nhất là thuốc giảm đau mà NSAID là thuốc đầu tay trong điều trị triệu chứng đau thông thường. Để giảm tác dụng không mong muốn khi dùng đường toàn thân, người ta thường bào chế dạng tác dụng tại chỗ cho những cơn đau ngoại vi. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu về một công thức tạo ra thuốc giảm đau chống viêm phi Steroid Diclofenac dưới dạng mỡ Emulgel bôi tại chỗ.

Công dụng của thuốc mỡ Emulgel Natri Diclofenac

Diclofenac là loại thuốc giảm đau chống viêm nhóm NSAID hay dùng trong những cơn đau ngoại vi từ nhẹ đến trung bình, đau sau chấn thương, đau có sự lây lan.

Thuốc mỡ này được chỉ định cho bệnh nhân là người lớn, thanh thiếu niên trên 14 tuổi, những trường hợp khác cần dựa vào kinh nghiệm của các bác sĩ, khuyến cáo dùng Emulgel cho trẻ dưới 12 tuổi.

Emulgel là gì? Ưu nhược điểm của Emulgel

Emulgel là một dạng bào chế kiểu nhũ tương mà trong pha nước có chứa chất tạo gel.

Dạng này có nhiều ưu điểm hơn thuốc mỡ thông thường khác là không cản trở sự trao đổi bình thường của da, không trơn nhờn, dễ dàng rửa sạch. Cũng như các loại thuốc mỡ khác, Emulgel có thể chất mềm mịn, hấp dẫn, có khả năng giải phóng dược chất nhanh đồng thời thấm sâu vào bề mặt da giúp tăng tác dụng của thuốc.

Tuy nhiên, Emulgel cũng có không ít nhược điểm như do bản chất vẫn là nhũ tương nên kém bền so với các dạng khác không phải nhũ tương, đặc biệt với sự thay đổi của nhiệt độ sẽ dễ bị tách lớp nhưng vì có mặt tá dược tạo gel làm tăng độ nhớt, cũng bền hơn dạng nhũ tương thông thường. Gel trong công thức lại gây ra vấn đề giữ ẩm kém, dễ bị mất nước, thuốc trở nên khô cứng, giảm tác dụng và gây khó chịu cho da, gel cũng gây dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm mốc.

Tham khảo thêm: Nhũ tương là gì? Các phương pháp bào chế nhũ tương thuốc

Công thức bào chế thuốc mỡ Emulgel Natri Diclofenac

  • Natri Diclofenac…………..1,0g
  • Alcol Cetylic ………………..6,0g
  • Tween 80 ……………………1,6g
  • Span 80 ………………………0.5g
  • Ethanol 96 …………………..10g
  • Carbopol 934 ……………….. 0,4g
  • Triethanolamin ……………… 0,2g
  • Propylene Glycol ……………. 10,0g

Nước tinh khiết vừa đủ 100,0g

Cấu trúc lý hóa

Emulgel có cấu trúc hóa lý kiểu nhũ tương dầu trong nước vì chất nhũ hóa là Tween (thân nước) có tỷ lệ lớn hơn Span (thân dầu).

Nhũ tương dầu trong nước
Nhũ tương dầu trong nước

Pha nước gồm dược chất (Natri diclofenac), ethanol 96, carbopol, triethanolamine, Tween 80, nước.

Pha dầu gồm Span 80, alcol cetylic.

Đặc điểm, vai trò mỗi thành phần

Natri Diclofenac

Natri Diclofenac
Natri Diclofenac

Natri Diclofenac dạng muối của kim loại kiềm là bột kết tinh màu trắng hoặc hơi vàng, khả năng hút ẩm nhẹ, muối này dễ tan trong cồn (ethanol, methanol), hơi tan trong nước và không tan trong dung môi hữu cơ như aceton. Natri diclofenac nóng chảy và thủy phân ở khoảng 280°C.

Đây là dược chất nên vai trò của nó để tạo nên tác dụng dược lý cho thuốc.

Alcol Cetylic

Alcol Cetylic là alcol béo, dẫn chất của dầu mỡ sáp thân dầu, có dạng hạt, cục như sáp màu trắng. Alcol này không tan trong nước, tan được trong ethanol. Một số tá dược dầu mỡ sáp thường bị ôi khét nhưng Alcol cetylic thì ít bị do nó được hydrogen hóa từ dầu mỡ sáp.

Một số vai trò của tá dược này là tham gia vào pha dầu để tăng độ ổn định cho nhũ tương, điều chỉnh thể chất thuốc mỡ, làm mềm da mà không gây nhờn.

Tween 80, Span 80

Hai chất này đều có bản chất là chất diện hoạt làm giảm sức căng bề mặt phân cách hai pha lỏng, giúp tạo thành các cấu trúc nhũ tương dầu trong nước hoặc nước trong dầu.

Tween 80 thân nước nên tạo nhũ tương dầu trong nước, span 80 thân dầu, tạo nhũ tương nước trong dầu. Trong trường hợp công thức thuốc chứa cả hai loại dược chất này thì tỷ lệ tá dược nào cao hơn sẽ quyết định cấu trúc hóa lý của nó.

Với thuốc mỡ này, Tween 80 có hàm lượng cao hơn span nên tạo nhũ tương dầu trong nước.

Khi có mặt span kết hợp cùng Tween để hình thành lớp áo kép giúp ổn định nhũ tương về mặt tương tác phân tử.

Ngoài ra, cả hai tá dược này đều có độ nhớt cao nên ổn định cấu trúc nhũ tương, tăng độ tan cho dược chất, đây cũng là chất gây thấm, gây phân tán nên làm tăng tính thấm của dược chất, tăng khả năng phân tán nhanh, tăng tác dụng giảm đau, chống viêm.

Ethanol 96

Đây là cồn tuyệt đối, rất dễ bay hơi và háo ẩm. Tuy nhiên, khi kết hợp với propylen glycol và nước tạo ra hỗn hợp đồng dung môi tăng độ tan của dược chất. Mặt khác, ethanol 96 cũng tăng độ ổn định của dược chất bằng cách hạn chế thủy phân chúng, bảo vệ dược chất khỏi những vi khuẩn, vi sinh vật do có tính sát khuẩn.

Propylene glycol

Là hợp chất hữu cơ có độ nhớt cao, tăng độ bám dính trên bề mặt da, tạo hỗn hợp đồng dung môi nên tăng độ tan dược chất, giữ ẩm cho da do carbopol là polymer khi bôi để lại lớp sừng trên da gây khô da.

Đây cũng là tá dược có khả năng sát khuẩn, ngoài ra, carbopol dễ bị khô cứng khi bảo quản, dễ nứt mặt nên thêm propylene glycol giảm khô cứng thuốc trong quá trình bảo quản.

Carbopol 934

Đây là một loại polymer acid có chứa liên kết chéo, thân nước, độ nhớt không cao, nhưng có khả năng trương nở tạo gel bằng amin kiềm hoặc kiềm loãng. Tuy nhiên, gel tạo ra rất dễ bị mất nước, trở nên khô cứng, để khắc phục vấn đề này như đã nói ở trên có thể thêm propylene glycol, glycerin, sorbitol (10-20%).

Do Carbopol dễ nhiễm khuẩn nên cần thêm chất sát khuẩn để tránh vi sinh vật.

Triethanolamine (TEA)

Triethanolamine
Triethanolamine

Là hợp chất hữu cơ có một nhóm amin bậc ba nên có tính base , có thể tác dụng với các chất có tính acid và ba nhóm chức ancol (-OH) trong phân tử, không màu, nhiệt độ sôi khoảng 335°C. Tá dược này được dùng với vai trò để điều chỉnh pH để tăng độ tan, độ ổn định, tăng sinh khả dụng, trung hòa carbopol để hình thành gel có độ nhớt cao hơn, đặc hơn, thích hợp hơn cho thuốc mỡ.

Phương pháp, kỹ thuật bào chế

Quy trình bào chế Emugel Natri diclofenac
Quy trình bào chế Emugel Natri diclofenac

Phương pháp điều chế là hòa tan chất nhũ hóa, dược chất được đưa vào pha nước để tăng khả năng giải phóng nhanh, tác dụng giảm đau được kịp thời.

Cũng như tạo nhũ tương, bào chế Emulgel Natri diclofenac cần chuẩn bị pha nước, pha dầu rồi phối hợp hai pha tạo khối đồng nhất.

Bước 1: Tạo pha nước

Pha nước là sự kết hợp của hai phần, phần thứ nhất gồm dược chất (Natri diclofenac) cho vào hỗn hợp dung môi gồm Tween 80, ethanol 96, propylene glycol trong cốc có mỏ hòa tan hoàn toàn, phần hai là carbopol ngâm trương nở trong nước, cho triethanolamine vào trộn đều rồi thêm dần nước vào trộn nhẹ nhàng, duy trì nhiệt khoảng 65-70°C.

Rót phần một vào phần hai rồi trộn nhẹ nhàng đến đồng nhất thành dung dịch có thể chất đặc.

Bước 2: Tạo pha dầu

Pha dầu gồm alcol cetylic được đun chảy lỏng rồi hòa tan span 80, để nhiệt độ duy trì khoảng 60-65°C.

Nếu có thể, nên thực hiện bước 1 và bước 2 đồng thời sẽ tiết kiệm thời gian bào chế cũng như giúp việc duy trì nhiệt độ mỗi pha dễ dàng hơn.

Cuối cùng là phối hợp pha dầu vào pha nước, đánh nhanh, mạnh trong khoảng 2-3 phút đến đồng nhất nhũ tương rồi đóng gói, dán nhãn đúng quy chế.

Tiêu chuẩn chất lượng

Chất lượng của thuốc mỡ Emulgel cũng tương tự như một số loại mỡ khác bao gồm: độ đồng nhất, đồng đều khối lượng, giới hạn vi sinh vật, thể chất, xác định điểm nhỏ giọt, xác định điểm đông đặc, xác định chỉ số nước, kiểm tra tính chất lưu biến của thuốc mỡ,… Trong đó dược điển Việt Nam quy định về độ đồng nhất là dùng 1 lượng nhỏ thuốc mỡ ép bằng lam kính quan sát tiểu phân bằng mắt thường, phải đạt 3/4  tiêu bản của 4 đơn vị đóng gói không nhìn thấy tiểu phân nào mới gọi là đạt yêu cầu. Nếu không đạt sẽ phải thử lại với 8 đơn vị đóng gói khác.

Chỉ tiêu về đồng đều khối lượng tham khảo ở phụ lục 11.3, chỉ tiêu về giới hạn nhiễm khuẩn ở phụ lục 13.6 Dược điển Việt Nam V.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here