Carbomer là tá dược gì? Ứng dụng trong sản xuất dược phẩm

0
184
Tá dược Carbomer
Tá dược Carbomer

Các tên thương mại hay được sử dụng của Carbomer

Carbomer có rất nhiều tên thương mại. Đa phần các công ty sản xuất đều đăng ký sử dụng một tên thương mại khác nhau ví dụ: Acrypol, Acritamer, carboxyvinyl polymer, carbomera hay Pemulen, Tego Carbomer.

Công thức thực nghiệm và khối lượng phân tử của Carbomer

Carbomer có bản chất là các polymer tổng hợp cao phân tử của acid acrylic. Các phân tử acid acrylic liên kết chép với allyl sucrose hoặc allyl ether của pentaerythritol. Carbomer trong trạng thái khô cơ bản chứa từ 52% đến 68% nhóm carboxylic (–COOH). Theo dược điển anh 2009 và dược điển châu Âu 6.4, cả 2 dược điển này đều có một chuyên khảo để mô tả chung về carbomer; còn dược điển Mỹ US32-NF27 lại có nhiều chuyên khảo mô tả các loại carbomer cụ thể với những biến đổi trong độ nhớt trong dung dịch nước, loại polymer và phương pháp trùng hợp.

Công thức hóa học của carbomer
Công thức hóa học của carbomer

Khối lượng phân tử của carbomer được tính toán theo lí thuyết là từ 7×10^5 đến 4×10^9 đơn vị carbon (đvc).

Cấu trúc phân tử của Carbomer

Các polymer Carbomer được cấu thành từ việc lặp lại các đơn vị của acid acrylic. Các đơn vị này được thể hiện ở hình trên. Giữa các loại carbomer khác nhau thì n sẽ khác nhau. Các chuỗi polymer này sẽ liên kết chéo với allyl sucrose hoặc pentaerythritol.

Cảm quan

Các Carbomer là bột màu trắng, mịn, có tính acid, hút ẩm, mùi đặc trưng. Ngoài dạng bột, Carbomer cũng sẵn có ở dạng hạt (như Carbopol 71G)

Dạng bột

Dạng hạt

Các chức năng của Carbomer và ứng dụng trong bào chế

  • Tác nhân kiểm soát giải phóng
  • Vật liệu liên kết sinh học
  • Chất nhũ hóa
  • Chất ổn định nhũ tương
  • Chất biến đổi lưu biến
  • Chất ổn định
  • Chất gây phân tán
  • Tá dược dính trong viên nén

Các ứng dụng của Carbomer trong xây dựng công thức và kĩ thuật bào chế

Carbomer được sử dụng trong các công thức bào chế dạng dung dịch hoặc bán rắn với vai trò là các chất biến đổi tính chất lưu biến. Các dạng bào chế này bao gồm kem, gel, mỡ, kem dưỡng da với các sử dụng tại mắt, trực tràng, âm đạo hoặc các mục đích tại chỗ khác. Các loại Carbomer với nồng độ tồn dư benzene nhiều hơn 2 ppm là không đạt các tiêu chuẩn theo chuyên luận trong dược điển châu Âu 6.4. Tuy nhiên, carbomer có tồn dư thấp của các dung môi khác theo ICH định nghĩa là “các dung môi OVI cấp I” có thể được sử dụng tại châu Âu. Cacbormer có nồng độ tồn dư dung môi thấp của ethyl acetate như carbopol 971P NF hay Carbopol 974P NFcó thể được sử trong các pha chế các chế phẩm đường uống như hỗn dịch, viên nang hay viên nén. Chú ý, trong các công thức gel thuốc có sử dụng các polymer để tạo gel như là Carbomer rất dễ bị mất nước dẫn đến khô nứt nẻ khi bảo quản cũng như khi sử dụng, do đó cần thêm các thành phần giữ ẩm cho gel là các Polyol như glyceorin, propylene glycol (PG) vào trong thành phần.

Carbomer có thể dùng làm tá dược dính trong sản xuất viên nén
Carbomer có thể dùng làm tá dược dính trong sản xuất viên nén

Trong các công thức viên nén, Carbomer được sử dụng như là các tá dược dính hoặc các chất kiểm soát giải phóng. Không giống như các polymer, độ nhớt cao của Carbomer không đồng nghĩa là việc giải phóng thuốc sẽ chậm lại. Các polymer liên kết chéo chuỗi nhẹ (có độ nhớt thấp) kiểm soát giải phóng hiệu quả hơn các Carbomer có các liên kết chéo (độ nhớt lớn).

Trong các quy trình tạo hạt ướt, nước, dung môi hoặc hỗn hợp của chúng có thể được sử dụng như tá dược dính lỏng. Độ dính của khối ẩm này có thể được giảm bằng cách thêm talc vào công thức hoặc bằng việc thêm các loại cation đặc biệt vào dung dịch tá dược dính này. Tuy nhiên sự hiện diện của các muối cation có thể làm tăng giải phóng thuốc quá mức và giảm tính chất gắn kết sinh học của Carbomer. Các Carbomer cũng được nghiên cứu trong việc pha chế các hạt kiểm soát giải phóng, như là các chất ức chế enzyme Protease ở ruột trong các dạng bào chế chứa các chuỗi peptid, như là một chất liên kết sinh học cho các miếng dán cổ tử cung, cho các vi cầu được chỉ định tại mũi, trong các hạt từ tính của các hệ mang thuốc tại đích đến thực quản và trong các hệ mang thuốc kiểm soát giải phóng ở các thuốc dính niêm mạc đường uống.

Các Carbomer copolymer cũng được ứng dụng như là các chất nhũ hóa trong pha chế các nhũ tương dầu trong nước cho các sử dụng bên ngoài. Carbomer 951 vừa được nghiên cứu như là chất làm tăng độ nhớt trong việc pha chế các vi cầu đa nhũ tương.

Ngoài ra, Carbomer còn được sử dụng trong mỹ phẩm. Trong điều trị, các công thức chứa Carbomer được chứng minh là hiệu quả trong cải thiện triệu chứng của hội chứng khô mắt trung bình đến nặng.

Ứng dụng Nồng độ sử dụng (%)
Chất gây nhũ hóa 0.1–0.5
Tá dược tạo gel 0.5–2.0
Chất gây phân tán 0.5–1.0
Tá dược dính của viên nén 0.75–3.0
Tác nhân kiểm soát giải phóng 5.0–30.0

Bảng trên đây là các ứng dụng của Carbomer và nồng độ sử dụng.

Tham khảo thêm: Tá dược dính là gì? Phân loại, vai trò, các loại tá dược dính thường gặp

Một số nghiên cứu dử dụng Carbomer trong các dạng bào chế

Tên nghiên cứu: xây dựng công thức và đánh giá invivo và invitro của viên nén giải phóng từ từ theo cơ chế nổi sủi bọt của imatinib mesylate.

Các tác giả: Ali Kadivar 1, Behnam Kamalidehghan 1, Hamid Akbari Javar 2, Ehsan Taghizadeh Davoudi 1, Nurul Dhania Zaharuddin 1, Bahareh Sabeti 1, Lip Yong Chung 1, Mohamed Ibrahim Noordin

Giới thiệu: Imatinib mesylate là một thuốc chống ung thư, chúng được hấp thu nhiều ở phần trên ống tiêu hóa. Các viên nén quy ước chứa imatinib mesylate gây ra nồng độ thuốc trong máu (C max) cao và nhanh (Tmax ngắn) và yêu cầu cần sử dụng thường xuyên trong ngày để duy trì nồng độ thuốc có hiệu quả. Điều này gây ra các tác dụng không mong muốn, giảm hiệu quả điều trị. Cho nên viên nén giải phóng từ từ theo cơ chế nổi sủi bọt được phát triển để cho phép giải phóng imatinib mesylate từ từ ở phần trên của đường tiêu hóa và không phải dùng nhiều lần như các viên nén quy ước.

Phương pháp: viên nén giải phóng từ từ imatinib mesylate được bào chế bằng phương pháp tạo hạt ướt. Viên nén này được xây dựng công thức sử dụng Carbomer 934P (CP), HPMC K4M và natri alginate (SA) như là các polymer giải phóng chậm. Các tính chất nổi, giải phóng in vitro, và hệ số trương nở được tiến hành nghiên cứu. Khoảng thời gian giải phóng tổng và ban đầu được so sánh với viên nén thương mại (Gleevec) ở 0.1 N HCl (pH 1.2) tại 37 +/- 0.5ᵒC trong 24 giờ. Các viên nén này sau đó được đo lường cho các thông số vật lý biến đổi, bao gồm biến đổi khối lượng, độ cứng, độ dày, độ bở và nồng độ thuốc. sau 6 tháng, các thử nghiệm Invivo và độ ổn định vật lý được tiến hành.

Kết quả và thảo luận: phân tích dữ liệu thống kê đã chỉ ra rằng, các viên nén chưa thành phần của 1.33% Carbomer 934P (kl/kl), 14.67% HPMC K4M (kl/kl), 10.67% Na Alginat (kl/kl) và 9.33% NaHCO3 (kl/kl) tạo ra công thức tối ưu để tạo ra viên nén giải phóng từ từ trong 24h với tính chất nổi tối ưu và các tính chất hóa lý mong muốn. Thêm nữa, trong nghiên cứu giải phóng In vivo cũng thể hiện rằng các viên nén giải phóng từ từ (SR) có Cmax thấp hơn và Tmax cao hơn đáng kể khi so với các viên nén giải phóng quy ước (Gleevec). Do đó, viên nén giải phóng từ từ này duy trì nồng độ thuốc ổn định trong máu đến 24 giờ.

Kết luận: để hướng đến một hệ phân phối thuốc tốt hơn với giải phóng tối ưu hằng đinh, tạo ra mức độ hấp thu tối ưu và ít tác dụng không mong muốn hơn, công thức viên nén imatinib mesylate giải phóng từ từ theo cơ chế nổi sủi bọt với các tá dược kiểm soát giải phóng như CP-HPMC-SA có thể là một ứng dụng đầy tiềm năng cho hóa trị liệu ung thư.

Các tiêu chuẩn dược điển

Dược điển Mỹ USP32–NF27 có nhiều chuyên luận bàn về các loại Carbomer, trong khi đó dược điển Anh 2009 và châu Âu 6.4 chỉ có một chuyên luận cho cả nhóm Carbomer.

Dược điển Mỹ USP32–NF27 đề cập đến 3 chuyên khảo: carbomer copolymer, carbomer homopolymer và carbomer interpolymer. Việc phân chia này dựa trên cấu trúc polymer và áp dụng đến các sản phẩm không polymer hóa trong benzene. Sử khác biệt của các Carbomer trong mỗi chuyên luyện lại được phân chia dựa trên độ nhớt (type A, B và C).

Dược điển Mỹ USP32–NF27 cũng có các chuyển luận cho Carpomer 934, 934 P, 940 và 941. Các polumer này đều được sản xuất bằng dung môi là benzene. Những chuyên luận hiện tại này cũng có thể áp dụng cho những sản phẩm được sản trong benzene hoặc không. Các sản phẩm được sản xuất mà không sử dụng benzene sẽ được liệt kê là các Carbomer Homopolymer, nếu các polymer này tuân theo chuyên luận carbomer homopolymer. Dược điển Mỹ USP32–NF27 cũng bao gồm Carbomer 1342, tên này được áp dụng đến Carbomer copolymer được sản xuất bằng benzene.

Bột carbomer 940
Bột carbomer 940

Trong các dược điển khác, Carbomer có thể xuất hiện trong các chuyên luận riêng biệt hoặc trong một chuyên luận chung.

Bằng các tiêu chuẩn dược điển cho Carbomer:

Các tiêu chuẩn Dược điển châu Âu 6.4 Dược điển Mỹ 32-NF 27
Đinh tính + +
Các tính chất +
Độ nhớt dung dịch (mPas) 300–115 000 +
Carbomer 934 (0.5% w/v 30 500–39 400
Carbomer 934P (0.5% w/v) 29 400–39 400
Carbomer 940 (0.5% w/v 40 000–60 000
Carbomer 941 (0.5% w/v) 4 000–11 000
Carbomer 1342 (1.0% w/v 9 500–26 500
Carbomer copolymer (1% w/v)
Loại A 4 500–13 500
Loại B 10 000–29 000
Loại C 25 000–45 000
Carbomer homopolymer (0.5% w/v)
Loại A 4 000–11 000
Loại B 25 000–45 000
Loại C 40 000–60 000
Carbomer interpolymer
Loại A (0.5% w/v) 45 000–65 000
Loại B (1% w/v) 47 000–77 000
Loại C (0.5% w/v) 8 500–16 500
Mất khối lượng do làm khô =< 3.0% =< 2.0%
Tro sulfate =< 4.0%
Cặn sau đốt =< 4.0%(a)
Tạp kim loại nặng =< 20 ppm =< 0.002%
Benzene =< 2 ppm +
Carbomer 934 =< 0.5%
Carbomer 934P =< 0.01%
Carbomer 940 =< 0.5%
Carbomer 941 =< 0.5%
Carbomer 1342 =< 0.2%
Carbomer copolymer =< 0.0002%
Carbomer homopolymer =< 0.0002%
Carbomer interpolymer =< 0.0002%
Acid acrylic tự do =< 0.25% =< 0.25%(b)
Tồn dư ethyl acetate +
Carbomer copolymer =< 0.5%
Carbomer homopolymer =< 0.5%
Carbomer interpolymer =< 0.35%
Tồn dư cyclohexane +
Carbomer copolymer =< 0.3%
Carbomer homopolymer =< 0.3%
Carbomer interpolymer =< 0.15%
Định lượng nồng độ COOH 56.0–68.0% 56.0–68.0%(c)

 

a) Chỉ carbomer homopolymer

b) Chỉ carbomer copolymer, carbomer homopolymer và carbomer interpolymer

c) Ngoài trừ carbomer 1342, carbomer copolymer và carbomer interpolymer, tiêu chuẩn của các polymer này là 52.0%- 62.0%

Các tính chất đặc trưng

Tính acid/ kiềm:

pH= 2.4- 4.0 cho hệ phân tán trong nước nồng độ 2.0%

pH= 2.5- 3.0 cho hệ phân tán trong nước 1% Acrypol.

Khối lượng riêng (chưa nén): 0.2 g/cm3 (bột) và 0.4 g/cm3 (hạt)

Khối lượng riêng (đã nén): 0.3 g/cm3 (bột) và 0.4 g/cm3 (hạt)

Hệ số phân ly: pKa = 6.0+/- 0.5

Nhiệt độ chuyển kính: 100- 105ᵒC

Điểm nóng chảy: phân hủy thành phần diễn ra sau 30 phút tại 260 ᵒC

Nồng độ ẩm: hàm ẩm đến 2% (kl/kl). Tuy nhiên, các Carbomer là các chất hút ẩm và đạt đến một độ ẩm cân bằng tại 25 ᵒC với độ ẩm tương đối của môi trường 50% là từ 8- 10% (kl/kl). Độ âm ít ảnh hưởng đến độ đặc của Carbomer, nhưng việc tăng độ ẩm có thể làm polymer này khó để xử dụng bời vì nó ít phân tán hơn.

Carbomer 980
Carbomer 980

Phổ IR (nhìn hình dưới):

Phân bố kích thước tiểu phân: trung bình kích thước tiểu phân ban đầu có đường kính là 0.2 µm. Khi các tiểu phân này kết tụ nhau, chúng có thể có kích thước trung bình từ 2-7 µm và không thể quay trở lại kích thước ban đầu. Kích thước của Carbomer dạng hạt là từ 150-425 µm.

Độ tan: có khả năng trương nở trong nước, glycerin và trong ethanol (95%) (chỉ sau khi trung hòa). Các Carbomer không hòa tan nhưng chúng trương nở đến một mức độ nhất định, bởi vì chúng là những gel vi phân tử liên kết chéo 3 chiều.

Mật độ tương đối: 1.41

Độ nhớt (động học): carbomer phân tán vào trong nước và tạo hệ phân tán keo acid, khi được trung hòa, chúng tạo ra độ nhớt cao hơn. Các Carpomer trước tiên nên được phân tán vào nước được khuấy mạnh, cẩn thận để tránh hình thành các đám kết tụ không thể thấm nước đươc. Sau đó, hệ phân tán này được trung hòa bằng việc thêm các bazơ. Các tác nhân có thể được sử dụng để trung hòa bao gồm amino acid, kali hydroxide, Natri bicarbonate, Natri hydroxide, và các amin hữu cơ như là triethanolamine. Một gam carbomer cần được trung hòa bởi xấp xỉ 0.4g Natri hydroxide. Trong quá trình pha chế gel, dung dịch được khuấy trộn từ từ với một máy khuấy đồng nhất và rộng khắp để tránh tạo bọt khí. Các gel nước được trung hòa nhớt hơn tại pH từ 6- 11.

Độ nhớt này bị giảm đáng kể tại giá trị pH thấp hơn 3 hoặc lớn hơn 12 hoặc có sự hiện diện của các chất điện giải mạnh. Gel này cũng nhanh chóng giảm độ nhớt khi tiếp xúc với tia UV, những cũng có thể được hạn chế đến mức tối thiểu bằng việc thêm các chất chống Oxi hóa thích hợp.

Độ ổn định và điều kiện bảo quản Carbomer

Các Carbomer là các nguyên liệu ổn định và hút ẩm. Nó có thể bị đun nóng ở nhiệt độ dưới 104ᵒC trong thời gian lên đến 2 giờ mà không bị ảnh hưởng đến độ đặc của nó. Tuy nhiên, khi tiếp xúc đến nhiệt quá lớn có thể dẫn đến phai màu và giảm độ ổn định của polymer này. Carbomer bị phân hủy hòa toàn khi đun nóng trong vòng 30 phút tại nhiệt độ 260ᵒC. Dạng bột khô của Carbomer không phải là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn và vi nấm phát triển. Tuy nhiên, các vi sinh vật có thể phát triển tốt trong hệ phân tán nước khi không được bảo quản. Do đó, một lượng chất bảo quản được bổ sung vào các gel này như 0.1% (kl/tt) chlorocresol, 0.18% (kl/tt), methylparaben–0.02% (kl/tt) propylparaben hoặc 0.1% (kl/tt) thimerosal.

Việc thêm các chất bảo quản khác như benzalkonium chloride hoặc natri benzoate, tại nồng độ cao (0.1% kl/tt) có thể gây ra các vẩn đục và giảm độ nhớt của hệ phân tán carbomer trong nước. Gel nước của Carbomer cũng có thể được tiệt khuẩn bằng nhiệt ẩm trong nồi hấp mà chỉ gây sự thay đổi nhỏ trong độ nhớt hoặc pH của hệ, miễn là cẩn thận để loại oxy ra khỏi hệ thống hoặc bằng cách chiếu xạ tia gamma. Tuy nhiên,kĩ thuật này cũng làm tăng độ nhớt cho công thức.

Tại nhiệt độ phòng, các hệ phân tán của Carbomer có thể duy trì độ nhớt giữa quá trình bảo quản trong 1 thời gian dài. Tương tư, độ nhớt này cũng được ổn định và chỉ giảm nhẹ khi tăng nhiệt độ bảo quản nếu một chất chống oxy hóa được thêm vào hoặc nếu hệ phân tán này được bảo quản tránh ánh sáng. Việc tiếp xúc với ánh sáng có thể gây ra sự oxy hóa Carbomer, điều này dẫn đến giảm độ nhớt của gel. Độ ổn định với ánh sáng có thể được cải thiện bằng việc thêm từ 0.05–0.1% (kl/tt) của chất hấp thụ UV tan được trong nước như benzophenone-2 hoặc benzophenone-4 trong hỗn hợp với 0.05–0.1% acid edictid.

Bột Carbomer nên được bảo quản trong các phòng kín, chống ăn mòn và được bảo vệ khỏi độ ẩm. sử dụng các thùng chứa bằng thủy tinh hoặc nhựa được khuyến cáo cho bảo quản các chế phẩm có chứa Carbomer.

Tính tương hợp

Carbomer bị phai màu bởi các resorcinol và không tương hợp với Phenol, các polymer cation, acid mạnh và nồng độ cao các chất điện giải. Các tá dược kháng khuẩn cũng nên tránh hoặc sử dụng ở nồng độ thấp. Nồng độ các ion và các kim loại khác có thể xúc tác cho quá trình phân hủy Carbomer.

Carbomer 340
Carbomer 340

Các hoạt chất có nhóm chức amin có thể hình thành phức hợp với Carbomer, thông thường điều này có thể được phòng tránh bằng cách điều chỉnh PH của hệ hoặc các thông số độ tan khi sử dụng các alcol hoặc polyalcol thích hợp.

Các Carbomer cũng tạo các phức hợp phụ thuộc PH với các tá dược cao phân tử.

Sự biến đổi của pH hoặc các thông số độ tan cũng thể hiện trong trường hợp này.

Phương pháp sản xuất

Các Carbomer là các polymer tổng hợp, liên kết chép, cao phân tử của acid acrylic. Những polymer acid acrylic này được liên kết chéo với allyl sucrose hoặc allyl pentaerythritol. Dung môi diễn ra quá trình polymer hóa trước đây là benxen (một dung môi độc hại và ô nhiễm môi trường). Hiện nay, các sản phẩm thương mại của Carbomer chủ yếu được sản xuất bằng việc sử dụng ethyl acetate hoặc một đồng dung môi cyclohexane–ethyl acetate. Những dung môi này là an toàn và thân thiện môi trường hơn. Các polymer như Carbopol ETD và Carbopol Ultrez được sản xuất trong các hỗn hợp đồng dung môi với sự trợ giúp của một chất trùng hợp độc quyền của nhà sản xuất.

Carbomer có hại không?

Carbomer được sử dụng rộng khắp trong các sản phẩm ngoài đường tiêm, cụ thể như các chế phẩm bán rắn hoặc lỏng dùng tại chỗ. Các polymer được trùng họp trong ethyl acetate cũng có thể được sử dụng trong công thức đường uống. Không có bằng chứng của việc hấp thu toàn thân của các Carpomer sau khi uống. Các nghiên cứu độc tính đường uống cấp với các động vật đã chỉ ra rằng Carbomer 934P có độc tính đường uống thấp với liều lên đến 8g/ kg, khi chúng đước sử dụng cho chó mà không có biến cố tử vong nào xảy ra. Các Carbomer thông thường được coi như là các nguyên liệu không gây độc và không gây kích ứng quan trọng. Cũng không có bằng chứng trên người về các phản ứng quá mẫn với Carbomer khi sử dụng đường tại chỗ.

  • LD50 (chuột bạch, đường uống): 2.5 g/kg với carbomer 934(58)
  • LD50 (chuột bạch, đường uống): 2.5 g/kg với carbomer 934P
  • LD50 (chuột bạch, đường uống): 2.5 g/kg với carbomer 940
  • LD50 (chuột, tiêm phúc mạc): 0.04 g/kg với carbomer 934P
  • LD50 (chuột, tiêm phúc mạc): 0.04 g/kg với carbomer 940
  • LD50 (chuột, tiêm tĩnh mạch): 0.07 g/kg với carbomer 934P
  • LD50 (chuột, tiêm tĩnh mạch): 0.07 g/kg với carbomer 940
  • LD50 (chuột, đường uống): 4.6 g/kg với carbomer 934P
  • LD50 (chuột, đường uống): 4.6 g/kg với carbomer 934
  • LD50 (chuột, đường uống): 4.6 g/kg với carbomer 940
  • LD50 (chuột cống, đường uống): 10.25 g/kg với carbomer 910
  • LD50 (chuột cống, đường uống): 2.5 g/kg với carbomer 934P
  • LD50 (chuột cống, đường uống): 4.1 g/kg với carbomer 934
  • LD50 (chuột cống, đường uống): 2.5 g/kg với carbomer 940
  • LD50 (chuột cống, đường uống): > 1g/kg với carbomer 941
  • Các mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng (NOAEL) (cho chuột cống, chó dùng đường uống) không được quan sát: 1.5 g/kg cho carbomer homopolymer loại B

Các biện pháp phòng tránh các tác dụng không mong muốn

Áp dụng các biện pháp phòng tránh thông thường thích hợp tùy theo các trường hợp cụ thể và lượng Carbomer sử dụng. Việc phát sinh quá nhiều bụi cũng cần được hạn chế để tránh nguy cơ gây nổ (nồng độ gây nổ thấp nhất là 130 g/ cm3). Bụi Carbomer có thể gây kích ứng mắt, miêm mạc và đường hô hấp. Khi mắt tiếp xúc bụi Carbomer, dung dịch saline nên được sử dụng để giảm kích ứng. Bao tay, bảo vệ mắt, và mặt lạ phòng độc được khuyến cáo trong quá trình thao tác với Carbomer.

Một dung dịch của các chất điện giải (natri clorid) được khuyến cáo để vệ sinh thiết bị sau các quá trình thao tác với Carbomer.

Một số công thức bào chế chứa Carbomer

Gel

Gel thuốc tra mắt pilocarpin

Pilocarpin hydroclorid…………4,0 g

Benzalkonium clorid…………..0,008 g

Dinatri edetat…………………..0,02 g

Carbomer 940…………………..0,5 g

Dung dịch natri hydroxyd…….10% vđ

Nước tinh khiết vđ………………100 g

Trong công thức này, dung dịch NaOH được thêm vào công thức để trung hòa Carbomer 940 để tăng khả năng tạo gel của tá dược này và Benzalkonium clorid được dùng làm chất sát khuổn bảo quản cho gel. Do dược chất có nhóm Hydroclorid, nên cần ngâm trương nở và trung hòa gel xong rồi mới phối hợp với dược chất để tránh xảy ra tương tác giữa Pilocarpin hydroclorid và NaOH.

Voltarene Emugel

Diethylamoni diclofenac…………..1.16g

Diethylamin………………………..Vừa đủ

Carbopol 934………………………Vừa đủ

Cetomacrogol 1000……………….Vừa đủ

Alcol isopropylic……………………Vừa đủ

Dầu parafin…………………………Vừa đủ

Propylen glycol……………………..Vừa đủ

Nước tinh khiết vừa đủ…………….100.0 ml

Trong công thức này diethyl amin được sử dụng để trung hòa Carbopol, làm tăng độ nhớt cho gel. Và propylene glycol có tác dụng giữ ẩm cho gel tránh khô nứt kết hợp cùng với Alcol isopropylic (với nồng độ thích hợp) có tác dụng sát khuẩn bảo quản gel.

Các thuốc dán thấm qua da

Miếng dán thấm qua da
Miếng dán thấm qua da

Hệ cốt

Lớp gáy: Polyeste (ScotchPak® 9732)

Lớp chứa dược chất:

  • Galatamin: 3 %
  • Ethanol: vừa đủ
  • Carbomer: vừa đủ
  • Isopropyl myristat: 5 %

Lớp lót/bảo vệ:

  • Fuoropolyme-treated polyeste

Hệ khoang chứa dược chất

Lớp gáy: Polyeste

Khoang chứa DC:

  • Ketorolac 24 %
  • Ethanol 37 %
  • Nước 35 %
  • Isopropyl myristat 1,1%
  • Hydroxypropylcellulose 0,4%

Màng kiểm soát GP: vinylacetat–ethylen copolyme

Lớp dính: Polyacrylat Isopropyl myristat 3 %

Lớp bảo vệ/lót: Polyethylen

Các thuốc dạng hỗn dịch

  • Natri alginate…………………………..1.000 g
  • Natri Hydrocarbonat…………………..0.426 g
  • Calci carbonat………………………….0.65 g
  • Nipagin………………………………….0.03 g
  • Kali hydroxyd…………………………..0.04 g
  • Carbopol 934……………………………0.150 g
  • Natri Saccharin…………………………0.02 g
  • Hương chanh vừa đủ
  • Nước tinh khiết vừa đủ…………………20 ml

Trong công thức này, Carbopol là tên khác của carbomer, được sử dụng để tăng độ nhớt cho hỗn dịch, giảm sa lăng. Đồng thời nó cũng tạo lớp áo keo thân nước bao quang tiểu phân giúp các tiểu phân dược chất dễ dàng phân tán vào môi trường và tránh các tiểu phân kết tụ vào nhau trong quá trình bảo quản

Tài liệu tham khảo:

Sổ tay tá dược: “handbook of pharmaceutical excipient” chuyên luận “carbomer” tr 110- 114

Slide bài giảng “bào chế và sinh dược học” cả tập 1 và tập 2

Sách “kĩ thuật bào chế và sinh dược học” – bộ Y tế- cả tập 1 và tập 2

Pubmed: link https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26035710/

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here