Thuốc đặt Nystatin: Công thức và phương pháp bào chế

0
652
Hình ảnh: Thuốc đặt Nystatin
Hình ảnh: Thuốc đặt Nystatin

Công thức bào chế

Công thức viên đặt dạng thuốc trứng 2.65g ( tính theo tá dược gelatin- glycerin)

Nystatin                              0,02 g

Tá dược gelatin- glycerin      vừa đủ 2.65g

Tá dược gelatin- glycerin bao gồm:

  • Gelatin         10%
  • Glycerin        60%
  • Nước            30%

Thông tin cần biết

Tính chất, độ ổn định, tác dụng dược lý của nystatin

Nystatin chứa chủ yếu là các tetraen, thành phần chính là acid, có màu vàng hay nâu nhạt, dễ hút ẩm. Thực tế không tan trong nước và ethanol 96%, tan trong dimethylfomamid và DMSO, khó tan trong methanol.

Tác dụng dược lí: là kháng sinh polyen, nhạy cảm với nấm mốc, đặc biệt là Candida albicans phụ khoa.

Tá dược gelatin- glycerin

Tá dược trên gồm 3 thành phần là gelatin: glycerin: nước với tỉ lệ 1:6:3. Tuy nhiên tỉ lệ công thức này có thể thay đổi để phù hợp với khả năng tạo gel của gelatin, tính chất của dược chất cũng như điều kiện khí hậu. Đây là một tá dược thân nước.

Ưu nhược điểm của dạng thuốc trứng

Ưu điểm:

  • Đặt thuốc gây tác dụng tại chỗ giúp tập trung được nồng độ DC cao tại đích, tăng hiệu quả điều trị và giảm phơi nhiễm toàn thân với các tác dụng không mong muồn của thuốc.
  • Đặt thuốc gây tác dụng toàn thân: thuận lợi trong hấp thu các thuốc bản chất là các protein và peptid
  • Đường dung thuận lợi để đưa hormon sinh  dục tới đích tác dụng như progesteron
  • Thích hợp với bệnh nhân gặp khó khăn khi uống thuốc, nôn khi uống thuốc hay 1 số trường hợp phẫu thuật
  • Bệnh nhân tự sử dụng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ.

Nhược điểm:

  • Là đường dùng thuốc đặc trưng theo giới tính nữ
  • Chu kì kinh nguyệt và sự thay đổi hormon có ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ hấp thu thuốc
  • Thuốc đặt có thể bị rò rỉ ra ngoài sau khi đặt. Không thuận lợi khi bệnh nhân đi lại, vận động nhiều, ảnh hưởng thói quen, quan niệm…
  • Môi trường pH acid sinh lý của âm đạo có thể làm tăng chuyển hoá 1 số thuốc. Dự thay đổi pH sinh lí do nhiễm khuẩn có thể tác động đến độ ổn định, GPDC và hiệu quả điều trị
  • Hấp thu thuốc có thể xảy ra với 1 số thuốc được chỉ định với tác dụng tại chỗ.

Cấu trúc hoá lí và phương pháp phối hợp nystatin vào tá dược

  • Cấu trúc hoá lí: Hỗn dịch
  • Phương pháp phối hợp DC vào tá dược: trộn đều đơn giản
  • Phương pháp bào chế thuốc đặt: pp đun chảy đổ khuôn
  • Một số dạng bào chế khác: viên nén, thuốc mỡ

Kĩ thuật bào chế

Tính lượng dược chất và tá dược

Biết số viên trứng cần bào chế là 5 viên, bù hư hao 20% nên:

Lượng dược chất: 0,02x5x1,2= 0,12g

Lượng tá dược: 2,63x5x1,2= 15,78g.

Trong đó:

  • Gelatin = 10%x 15,78= 1,58g
  • Glycerin= 60%x 15.78= 9,47g
  • Nước= 30%x 15,78= 4,73g

Chuẩn bị khuôn

Khuôn bào chế thuốc đặt
Hình ảnh: Khuôn bào chế thuốc đặt

Lấy khuôn trong tủ sấy, sát khuẩn bằng ethanol 70%, bôi trơn bằng dầu parafin, lắp và úp ngược khuôn.

Quy trình bào chế

  • Cân dược chất và tá dược như đã tính toán.
  • Ngâm gelatin trương nở hoàn toàn trong 4,73 ml nước.
  • Nghiền mịn nystatin trong cối, thêm đồng lượng glycerin vào nghiền trộn thành bột nhão mịn, đồng nhất.
  • Đun phần glycerin còn lại trong nồi đun cách thuỷ, cho gelatin vào khuấy trộn cho đến khi gelatin tan hoàn toàn.
  • Để nguội đến 45oC rồi cho bột nhão nystatin vào trộn đều.
  • Đổ khuôn, để vào tủ lạnh trong 15p, tháo khuôn.
  • Đóng gói, dán nhãn đúng cách.

Một số lưu ý và giải thích hiện tượng

Cách chuẩn bị khuôn

  • Dùng ethanol 70% mà không dùng ethanol cao độ hơn như 80%, 90% vì chúng bay hơi nhanh, chưa kịp sát khuẩn đã bay hơi hết
  • Bôi trơn bằng dầu parafin vì tá dược dùng trong bài là thân nước, dùng dầu parafin để lấy thuốc khỏi khuôn dễ hơn
  • Chú ý khi đổ thuốc vào khuôn phải đổ thành dòng liên tục và không đổ tràn miệng khuôn, chỉ đồ đầy miệng vì tá dược này co không nhiều khi đông đặc.

Tại sao chọn tá dược gelatin- glycerin trong công thức trên mà không phải các tác dược thân nước khác?

Vì tá dược trên mang lại 1 số ưu điểm:

  • Có nguồn gốc tự nhiên nên có tác dụng làm dịu, ít gây kích ứng
  • Dễ rửa sạch, đặc biệt đây là viên đặt phụ khoa nên vấn đề vệ sinh sau khi đặt thuốc cần chú trọng
  • Vì là tá dược thân nước nên giải phóng dc nhanh
  • Không có tác dụng gây thấm, nhưng đây là thuốc nhằm mục đích tác dụng tại chỗ nên không gây thấm chính là 1 ưu điểm.

Sau khi bào chế, tại sao các viên thuốc trong 1 mẻ và giữa các mẻ có màu sắc đậm nhạt khác nhau?

Giữa các mẻ:

  • Do cân lượng dươc chất với khối lượng khác nhau, mà màu sắc của viên thuốc đặt chủ yếu do màu của dược chất tạo nên khác nhau.
  • Do khi vét bột nhão nystatin từ cối vào hỗn hợp gelatin-glycerin không đều nhau, người vét sạch người vét còn dư DC trong cối.
  • Thời điểm đổ khuôn khác nhau , có mẻ vừa pha loãng bột nhão với tá dc xong đổ luôn, có mẻ đợi 1 lúc sau mới đổ( hỗn dịch đặc hơn) nên mẻ đổ trước sẽ nhanh sa lắng hơn mẻ đổ sau nên màu sắc các viên cũng khác nhau.

Trong 1 mẻ: khi đun gelatin để quá lâu nên gelatin đã bị phân huỷ 1 phần do bị  cắt mạch peptid nên khả năng tạo gel giảm, làm hỗn dịch có thể sa lắng nhanh hơn nên khi đổ thuốc vào khuôn phần dưới sẽ đậm màu hơn phần trên.

Tại sao các viên không đồng đều về thể chất?

  • Gelatin không trương nở hết, nồng độ gelatin trong dịch thể thấp thì viên thuốc mềm hơn. Khắc phục: cần ngâm lâu hơn, hoặc làm nhỏ hơn trước khi ngâm
  • Khi đun gelatin để quá lâu nên gelatin đã bị phân huỷ 1 phần do bị  cắt mạch peptid nên khả năng tạo gel giảm, nên độ rắn mềm khác nhau
  • Lượng gelatin cân giữa các công thức không chính xác như nhau
  • Viên nào nhiều bọt thì mềm hơn

Tài liệu tham khảo

Dược điển Việt Nam V

Slide bài giảng Thuốc đặt – PGS. TS Vũ Thị Thu Giang- BM Bào chế

Xem thêm: Thuốc đặt là gì? Ưu nhược điểm, quy trình bào chế thuốc đặt

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây